Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh – kinh của trí huệ siêu việt đưa chúng ta thoát bể khổ

Kinh Bát Nhã – Bát Nhã tâm kinh – Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajnaparamitahridaya Sutra) là một trong các kinh căn bản và phổ thông của Phật Giáo Đại Thừa. Bài kinh này là một trong các bài kinh của bộ Bát Nhã kết tập tại Ấn Độ qua bảy thế kỷ, từ năm 100 T.C.N. đến 600 C.N. 

Kinh Bát Nhã chỉ gồm 262 chữ nhưng lại có ý nghĩa rất thâm sâu, rất cơ bản. Đây là bản kinh trung tâm nói về trí tuệ thâm sâu, nhằm phá thói quen chấp thật rất nặng nề của chúng sinh, đưa chúng sinh vượt qua bể khổ (sông mê) sang bờ giác ngộ (cõi Niết bàn: nơi thoát khổ hạnh).

Nhìn chung hệ thống kinh Bát Nhã đề cao tư tưởng KHÔNG (Trống rỗng) và CHÂN NHƯ (là tính tuyệt đối cuối cùng của vạn sự. … Tri kiến được Chân như tức  Giác ngộ, vượt khỏi thế giới nhị nguyên, chứng được cái nhất thể của khách thể và chủ thể) Các vị  Tổ lấy TÍNH KHÔNG và CHÂN NHƯ làm nền tảng để tu tập, tiến đến thể nhập KHÔNG và thể nhập CHÂN NHƯ. Ngoài ra trong hệ thống kinh Bát Nhã cũng đề cao một chủ đề nữa là HUYỄN (Giả mà như thật). Tựu trung ba chủ đề CHÂN NHƯ, KHÔNG và HUYỄN xem như là 3 gốc độ của Trí Tuệ Bát Nhã nhìn về hiện tượng thế gian trong đó có con người.

3 quan điểm Chân Như, Không và Huyễn như là thế chân vạc vững chắc để làm nền tảng cho Trí Tuệ Bát Nhã. Như vậy muốn khai mở Trí Tuệ tâm linh siêu vượt của mọi người, chúng ta cần thông suốt 3 chân lý đó. Thể nhập và sống phù hợp với 3 quan điểm Chân Như, Không và Huyễn thì chúng ta sẽ hết khổ.

Kinh này được các chùa tụng niệm rất thường xuyên, các thầy cúng đám ma, ngay cả ở nông thôn miền nam Việt Nam cũng tụng kinh này. Có thể nói kinh này rất quen thuộc với Phật tử, nhưng mọi người có hiểu rõ ràng tường tận ý nghĩa của nó không, thì không dám chắc. Có rất nhiều bài viết nhằm giải nghĩa kinh này nhưng chúng tôi thấy bài viết dưới đây của Thích nữ Hằng Như dễ hiểu nhất vì được Việt hóa, ít dùng Hán nghĩa, xin được dẫn để các bạn tham khảo.

Bản tụng Hán Việt:

Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức.
Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.
Vô khổ, tập, diệt, đạo.
Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.
Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:

Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

Bản dịch nghĩa:

Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn.
Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.
Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.
Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức.
Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.
Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết.
Không có khổ, tập, diệt, đạo.
Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.
Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.
Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.
Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối.
Cho nên khi nói đến Bát nhã Ba la mật đa, tức là phải nói câu chú:

Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
(Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó!)

(1) Bát nhãTrí tuệ sâu sắc hơn trí thông thường (trí tuệ đã được hiểu thấu, trí tuệ thâm sâu).

(2) Ba la mật đa: Sang bến bờ bên kia (ý nói sự kiện toàn của Trí Tuệ, Trí Tuệ hoàn hảo, Trí Tuệ cao nhất, gọi là Bát Nhã Ba-La-Mật.).

(3) Tâm: trung tâm, tim.

(4) Kinh: Lời nói của thánh nhân,  cần phân biệt với những lời nói của người nổi tiếng chỉ là truyện.

(5) Bồ tát: Chỉ những người tu tập, có mục tiêu muốn đạt tới quả vị Phật. Người thức tỉnh, chỉ người tu hành đã đạt đến giác ngộ.

(6) Quán tự tại (quán thế âm): Người lắng nghe người khác.

(7) Năm uẩn (ngũ uẩn): Uẩn là một nhóm các yếu tố.  Năm nhóm yếu tố kết hợp lại thành một con người đó là:

– Sắc uẩn: Vật chất (ám chỉ thân thể con người). 

– Thọ uẩn: Cảm giác (có 6 giác quan: mắt, tai, lưỡi, mũi, da, ý).

– Tưởng uẩn: Tri giác (sự nhận biết đối tượng).

– Hành uẩn: Ý chí (yếu tố tâm lý tạo động lực đi tới sự nghiệp).

– Thức uẩn: Nhận thức (phát hiện sự có mặt của đối tượng, có 6 thức: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, và ý thức).

(9) Xá Lợi Tử (Xá lợi phất): Ngài là đệ tử lớn trong số 10 đệ tử của Đức Phật, một trong 10 vị A LA HÁN. A LA HÁN là là “người xứng đáng” hoặc là “người hoàn hảo” theo Phật giáo Nguyên thủy, đã đạt tới Niết-bàn, thoát khỏi hoàn toàn Luân hồi. Tuy nhiên theo các giáo phái khác trong Phật giáo, thì thuật ngữ này để chỉ những người đã tiến rất sâu trên con đường giác ngộ, cũng thoát được sinh tử luân hồi nhưng chưa hoàn toàn viên mãn, nói cách khác là chưa đạt Phật quả.

(10) Sắc: Vật chất (theo quan niệm Phật giáo thì có 4 yếu tố tạo nên vật chất là địa (rắn), thủy (lỏng), hỏa (nhiệt), phong (khí)). Sắc trong kinh này ám chỉ thân thể con người.

(11) Không: Không ở đây có nghĩa là trống rỗng, khác với không và có.

(12) Tướng: Biểu hiện của tính (tính là bản thể nó vô hình giống như hư không nhưng không phải hư không)

(13) Pháp: Chân lý, hiện hữu.

Mời bạn nghe nhiều hơn nhạc Phật giáo tại youtube Tâm thường lạc

Tâm thường lạc

» Truy cập Website: https://ixomxom.com/

» Follow Facebook: https://www.facebook.com/tamthuonglac…

» Follow Tiktok: @tamthuonglacofficial

About Susan Tran

“Tôi có một giấc mơ, giấc mơ không quá lớn, đủ vừa bàn tay tôi. Tôi giữ giấc mơ theo mình đi khắp nơi. Mường tượng giấc mơ như quả trứng, ngày nào đó sẽ nở ra những điều xinh đẹp. Và tôi sẽ hạnh phúc…”

View all posts by Susan Tran →